Các khuyến nghị điều trị ung thư sớm đường tiêu hoá trên của VDFE được công bố tại VGEC 2026
Trong khuôn khổ VGEC 2026, PGS.TS Thái Doãn Kỳ đã có bài nói công bố về các hướng dẫn của Liên Chi Hội Nội soi Tiêu hoá Việt Nam (VFDE) về điều trị ung thư sớm đường tiêu hoá trên, bao gồm 7 khuyến nghị cho điều trị nội soi ung thư dạ dày sớm và 9 khuyến nghị cho điều trị ung thư thực quản sớm.

Theo PGS.TS Thái Doãn Kỳ, các khuyến nghị được hội đồng bác sĩ và chuyên gia soạn thảo theo quy trình chặt chẽ, dựa trên các nghiên cứu khoa học, bằng chứng và số liệu thực tiễn trong và ngoài nước, nhằm mục tiêu hỗ trợ các bác sĩ trong việc ra quyết định lâm sàng, tối ưu điều trị cho người bệnh.
Lenus Việt Nam ghi lại từ VGEC 2026 và gửi tới Quý bác sĩ quan tâm.
7 KHUYẾN NGHỊ ĐIỀU TRỊ NỘI SOI CHO UNG THƯ DẠ DÀY SỚM
KHUYẾN NGHỊ 1:
Điều trị nội soi cho ung thư dạ dày sớm thể biệt hoá được chỉ định nếu tổn thương được đánh giá nội soi là chỉ giới hạn ở lớp niêm mạc (T1a), bất kể kích thước nếu không có loét, và ≤3cm nếu có loét. Cắt bỏ qua nội soi cũng có thể được chỉ định trong các trường hợp ung thư dạ dày thể không biệt hoá nếu đánh giá chỉ giới hạn lớp niêm mạc, kích thước ≤2cm và không có loét, với điều kiện giải phẫu bệnh đánh giá đầy đủ được các tiêu chí về cắt triệt căn. Chỉ định điều trị nên được thống nhất trong tiểu ban ung thư của bệnh viện.
- Mức độ chứng cứ: Trung bình – cao
- Mức độ khuyến nghị: Mạnh
KHUYẾN NGHỊ 2:
Đối với ung thư dạ dày sớm, kỹ thuật EMR chỉ nên áp dụng cho các trường hợp tổn thương kích thước nhỏ (≤1cm) và không có xơ. Đối với các trường hợp tổn thương lớn 1cm hoặc có xơ sẹo, ESD nên được lựa chọn.
- Mức độ chứng cứ: Trung bình – cao
- Mức độ khuyến nghị: Mạnh
KHUYẾN NGHỊ 3:
Đối với ung thư dạ dày sớm, nội soi nhuộm màu và nội soi tăng cường hình ảnh nên được áp dụng để đánh giá độ lan rộng của tổn thương trước khi cắt bỏ bằng nội soi.
- Mức độ chứng cứ: Trung bình – cao
- Mức độ khuyến nghị: Có điều kiện
KHUYẾN NGHỊ 4:
Mẫu bệnh phẩm sau cắt ESD nên được xử lý theo một quy trình thống nhất để đảm bảo cho việc đánh giá giải phẫu bệnh được chính xác nhất. Chúng tôi khuyến nghị các vết cắt viền bệnh phẩm sau cắt ESD và báo cáo kết quả giải phẫu bệnh theo phân loại ung thư đường tiêu hoá của Nhật Bản (phiên bản tiếng Anh thứ 3). Đánh giá sự triệt căn của cắt u nội soi cho ung thư dạ dày sớm dựa theo phân loại eCura của Nhật Bản. Tổn thương ung thư dạ dày sớm được coi là cắt bỏ nội soi triệt căn nếu các diện cắt âm tính và mang đặc điểm dự báo không hoặc rất ít nguy cơ di căn hạch.
- Mức độ chứng cứ: Cao
- Mức độ khuyến nghị: Mạnh
KHUYẾN NGHỊ 5:
Cần đốt các mạch máu ở đáy diện cắt để dự phòng biến chứng chảy máu muộn sau can thiệp. Kẹp đóng vết thương nên được cố gắng thực hiện ở các trường hợp có nguy cơ chảy máu hoặc biến chứng thủng cao. PPI được chỉ định để làm giảm triệu chứng và dự phòng biến chứng sau khi thực hiện EMR hoặc ESD ở dạ dày.
- Mức độ chứng cứ: Cao
- Mức độ khuyến nghị: Mạnh
KHUYẾN NGHỊ 6:
Các trường hợp ung thư dạ dày sớm được cắt bỏ qua nội soi nếu đánh giá giải phẫu bệnh diện cắt đáy có tế bào ung thư hoặc mang đặc điểm nguy cơ cao di căn hạch nên được xem xét chỉ định điều trị phẫu thuật cắt dạ dày. Các trường hợp chỉ có diện cắt bên có tế bào ung thư hoặc loạn sản độ cao cần xem xét điều trị bổ sung hoặc theo dõi nội soi chặt chẽ.
- Mức độ chứng cứ: Cao
- Mức độ khuyến nghị: Mạnh
KHUYẾN NGHỊ 7:
Các trường hợp ung thư dạ dày sớm được cắt bỏ triệt căn qua nội soi nên được nội soi giám sát định kỳ cách 6–12 tháng. Các trường hợp có nhiễm H. pylori cần được điều trị tiệt trừ.
- Mức độ chứng cứ: Cao
- Mức độ khuyến nghị: Mạnh
9 KHUYẾN NGHỊ ĐIỀU TRỊ NỘI SOI CHO UNG THƯ THỰC QUẢN SỚM
KHUYẾN NGHỊ 1:
Điều trị nội soi được khuyến cáo chỉ định cho các trường hợp ung thư thực quản sớm tế bào vảy với bất kể kích thước nếu chẩn đoán nội soi chỉ giới hạn ở lớp biểu mô hoặc lớp mô đệm. Cắt bỏ nội soi cũng có thể xem xét chỉ định cho các trường hợp tổn thương xâm lấn xuống lớp cơ niêm hoặc lớp hạ niêm mạc nông nhưng kích thước không quá 3/4 chu vi thực quản, sau khi đánh giá nguy cơ cẩn thận. Chỉ định điều trị nên được thống nhất trong tiểu ban ung thư của Bệnh viện.
- Mức độ chứng cứ: Trung bình – cao
- Mức độ khuyến nghị: Mạnh
KHUYẾN NGHỊ 2:
Điều trị cắt bỏ nội soi được khuyến cáo chỉ định cho các trường hợp loạn sản biểu mô tuyến độ cao. Trong trường hợp ung thư thực quản biểu mô tuyến giai đoạn sớm xuất phát từ thực quản Barrett, chỉ định điều trị cắt bỏ nội soi nếu tổn thương chỉ dự báo giới hạn ở lớp niêm mạc và không có di căn hạch.
- Mức độ chứng cứ: Trung bình – cao
- Mức độ khuyến nghị: Mạnh
KHUYẾN NGHỊ 3:
Nội soi tăng cường hình ảnh hoặc nhuộm màu Lugol được khuyến cáo cho đánh giá độ lan rộng của tổn thương trước khi cắt bỏ nội soi.
- Mức độ chứng cứ: Trung bình
- Mức độ khuyến nghị: Mạnh
KHUYẾN NGHỊ 4:
ESD nên được lựa chọn để cắt bỏ ung thư biểu mô thực quản giai đoạn sớm có chỉ định điều trị nội soi. Kỹ thuật EMR có thể là một lựa chọn thay thế cho ESD đối với các trường hợp tổn thương kích thước nhỏ ≤10 mm.
- Mức độ chứng cứ: Trung bình
- Mức độ khuyến nghị: Mạnh
KHUYẾN NGHỊ 5:
Việc lựa chọn phương pháp gây mê hoặc an thần khi tiến hành ESD điều trị ung thư thực quản sớm cần dựa trên nhiều yếu tố, bao gồm tình trạng sức khỏe của bệnh nhân, đặc điểm vị trí và kích thước của tổn thương. Gây mê toàn thân nên được lựa chọn để đảm bảo thuận lợi cho quá trình thực hiện kỹ thuật cũng như giảm nguy cơ biến chứng hô hấp.
- Mức độ chứng cứ: Trung bình – cao
- Mức độ khuyến nghị: Mạnh
KHUYẾN NGHỊ 6:
Kháng sinh dự phòng và PPIs không khuyến cáo thường quy sau can thiệp điều trị nội soi cho ung thư thực quản sớm. Kháng sinh và PPI có thể được cân nhắc sử dụng ở các bệnh nhân cụ thể.
- Mức độ chứng cứ: Thấp – Trung bình
- Mức độ khuyến nghị: Mạnh
KHUYẾN NGHỊ 7:
Khuyến cáo nên điều trị bổ sung đối với các trường hợp ung thư thực quản sớm tế bào vảy khi đánh giá giải phẫu bệnh là u xâm lấn dưới niêm mạc bất kể có hay không vi xâm lấn mạch máu bạch huyết, và các trường hợp chỉ xâm lấn cơ niêm nhưng có vi xâm lấn mạch máu bạch huyết; mặc dù diện cắt âm tính.
- Mức độ chứng cứ: Cao
- Mức độ khuyến nghị: Mạnh
KHUYẾN NGHỊ 8:
Khuyến cáo theo dõi nội soi định kỳ cách mỗi 3 tháng trong năm đầu tiên và sau đó cách mỗi 6–12 tháng đối với các trường hợp ung thư thực quản sớm tế bào vảy sau cắt bỏ nội soi triệt căn để giám sát tái phát tại chỗ và tổn thương mới ở vị trí khác của thực quản, cũng như tầm soát ung thư tế bào vảy vùng hạ họng thanh quản. Chụp cắt lớp vi tính hoặc PET/CT nên được thực hiện thêm ngoài nội soi cho các trường hợp nguy cơ tái phát cao sau cắt bỏ nội soi.
- Mức độ chứng cứ: Trung bình
- Mức độ khuyến nghị: Mạnh
KHUYẾN NGHỊ 9:
Nên điều trị dự phòng biến chứng hẹp và nội soi đánh giá sớm sau ESD thực quản cho các trường hợp nguy cơ cao biến chứng hẹp sau can thiệp (tổn thương ≥ 3/4 chu vi thực quản hoặc dài hơn 5 cm, tổn thương ở thực quản cổ). Tiêm steroid tại chỗ nên được ưu tiên lựa chọn hơn là liệu pháp toàn thân để giảm nguy cơ tác dụng phụ của thuốc.
- Mức độ chứng cứ: Cao
- Mức độ khuyến nghị: Mạnh